Cây muối


Cây muối, Cây muối là gì, công dụng của Cây muối, cách sử dụng Cây muối

THÔNG TIN CHI TIẾT

Tên tiếng Việt: Muối, Ngũ bội tử, Diêm phù mộc, Bầu bí, Chu môi, Đìu khụi, Bơ pật (Thái), Mạy piệt (Tày), Dã sơn, Sơn bút

Tên khoa học: Rhus chinensis Mill. - Rhus semialata Murr.

Họ: Anacardiaceae

Công dụng: Lỵ ra máu, ỉa chảy, giải độc. Lòi dom, lở loét, vết thương. Viêm chân răng, sưng tấy. Rễ và lá dùng chữa cảm mạo phát nhiệt thổ huyết, ăn uống khó tiêu, ỉa lỏng, đòn ngã gãy xương, vết thương

1. Mô tả

  • Cây nhỡ, cao 2 – 8m. Cành non có lông mềm màu hung. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, dài 25 – 40 cm, có 9 – 13 lá chét mỏng, hình mũi mác, dài 8-10 cm, rộng 4 – 6 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mặt trên sỉn, mặt dưới nhạt, gân nổi rõ, mép khía răng; cuống lá hình trụ, có cánh nhiều hay ít. Lá thường bị một loại côn trùng châm và ấu trùng sâu gây nên những bướu sần sùi, to nhỏ không đều.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá gần ngọn thành chùy rộng, phân nhiều nhánh; hoa nhỏ, màu trắng ngà; dài hợp có lông; tràng có cánh thuôn dài gấp 3 lần dài; nhị có chỉ nhị dài.
  • Quả hạch, gần tròn, có lông mềm, màu vàng cam hoặc đỏ.
  • Mùa hoa quả: tháng 10-1.

2. Phân bố, sinh thái

  • Chi Rhus L. có khoảng 200 loài trên thế giới, phân bố rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở cả hai bán cầu; song tập trung nhiều loài nhất ở những vùng khô hạn hay có thời tiết thay đổi rõ nét theo mùa. Tuy vậy, ở Autralia lại có rất ít loài. Ở Việt Nam, chi này có 2 loài.
  • Cây muối có vùng phân bố bắt đầu từ Đông Ấn Độ đến Miamna, Lào, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia (Sumatra và Java). Cây cũng được trồng thêm ở Java để làm thuốc. Như vậy, vùng phân bố của cây muối bao gồm cả khu vực có khí hậu nhiệt đới điển hình lẫn vùng cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, muối là cây gặp nhiều trong tự nhiên, phân bố rải rác khắp các tỉnh, từ vùng núi trung bình (1000 m) xuống vùng núi thấp, trung du, đôi khi gặp cả ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung và các đảo lớn.
  • Muối thuộc loại cây ưa sáng, có thể mọc được ở những nơi đất khô cằn (đồi cây bụi thấp), đất mới được khai phá hoặc ở vùng nương rẫy đã bỏ hoang, ở một số địa phương thuộc huvện Quản Bạ, Yên Minh (tỉnh Hà Giang); Bảo Thắng, Bát Xát (tỉnh Lào Cai)… có những vùng cây muối mọc khá tập trung. Cây thường mọc vượt lên các loại cây bụi thấp hoặc các bụi cỏ cao, ra hoa qủa nhiều; về mùa đông khi quả già lá vàng úa và rụng đồng loạt. Cây muối tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Phần thân và gốc còn lại sau khi bị chặt đều có khả năng tái sinh chồi.

3. Bộ phận dùng

  • Ngũ bội tử là tổ do côn trùng Melaphis chinensis (Bell) Baker tạo ra trên lá cây muối, thu hái vào mùa thu, nhúng vào nước sôi hoặc đồ cho đến khi mặt bên ngoài có màu xám (Dược điển Trung Quốc 1997, bản in tiếng Anh).
  • Ngũ bội tử lâu lại do côn trùng khác tạo ra.

4. Thành phần hóa học

  • Ngũ bội tử chứa galotanin 60 – 77%, thành phần phức tạp, trọng lượng phân tử là 1434. Thành phần chủ yếu là pentaundecagaloyl glucose, 1, 2, 3, 4, 6 – penta – O – galoyl – β- D – glucose (Trung dược từ hải I, 1993).
  • Hạt chứa tanin 50 – 70%, có khi 80%, thành phần chủ yếu là penta – m – digaloyl – β – glucose. Ngoài ra còn có acid galic 2 – 4%, lipid, nhựa, tinh bột, acid hữu cơ, acid tartric, acid citric, flavonoid (Trung dược lừ hải II, 1996).
  • Rễ có flavon, phenol, acid hữu cơ, tanin, dầu béo. Nhiều chất đã được phân lập từ rễ là acid galic, 7 – hydroxy – 6 – methoxycoumarin, scopoletin, methyl galat, 3, 7, 4′ – trihydroxyílavon 3, 7, 3′, 4′ – tetrahyciroxyflavon, fisetin, quercetin (Trung dược từ hải II, 1996).
  • Từ lá, Parveen Nazneem và cs, 1988 đã chiết tách được 4 flavon và ethvl galat (CA 110:44.792 d).
  • Từ cây muối, người ta còn chiết tách được β- silosierol, 3 – (heptadecvl) – catechol (CA 121:153.321 x).
  • Cây muối còn có acid semialatic (acid 3 α – hvdroxy – 3β, 19 – epoxydamara – 20, 24E – dien – 26 – oic) (CA 115: 110.658 v)
  • Các acid moronic, betulenic, 6 pentadecylsalicylic là những chất có tác dụng sinh học.

5.Tác dụng dược lý

  • Cây muối có tác dụng chống siêu vi khuẩn bệnh herpes (HSV), và làm tăng tác dụng chống HSV của acyclovia in vitro và in vivo, Trên chuột lang gây nhiễm HSV tip 2 (HSV – 2) hồi quy ở âm đạo, cây muối cho uống để dự phòng với liều tương đương liều cho người, làm giảm tỷ lệ nhiễm, mức độ nặng và tần số của thương tổn da tự phát và nặng so với chuột lang gây nhiễm uống nước. Khi gây nhiễm HSV – 2 hồi quy bằng chiếu tia tử ngoại, ba tháng sau khi gây nhiễm lần đầu, cây muối cũng có tác dụng dự phòng, làm giảm mức độ nặng của các thương tổn da do tia tử ngoại. Như vậy điều trị dự phòng nhiễm HSV – 2 đường sinh dục hồi quy có thể hồ trợ tác dụng của acyclovia do giảm sử dụng acyclovia và giảm xuất hiện virus kháng acyclovia. Cao cây muối có tác dụng điều trị chống HSV – 1. Khi kết hợp với acyclovia, tác dụng trên chuột nhắt trắng mạnh hơn so với dùng mỗi thuốc riêng lẻ.
  • Hai hợp chất chống HSV chủ yếu của cây muối là acid moronic và acid betulonic. Khi cho chuột nhắt trắng gây nhiễm HSV – 1 dưới da uống acid moronic ngày 3 lần, chất này làm chậm phát triển thương tổn da và/ hoặc kéo dài thời gian sống sót trung bình của chuột gây nhiễm mà không gây độc so với chuột đối chứng. Ngoài ra, acid moronic chặn sự tăng sinh của virus ở não mạnh hơn ở da. Cao chiết nước nóng cây muối ức chế sự nhân đôi của virus cự bào người và chuột in vitro. Cao methanol cây muối ức chế mạnh in vitro Clostridium perfringens trong điều kiện yếm khí.
  • Từ ngũ bội tử đã phân lập methyl galat (MG) và acid galic (AG) có tác dụng ức chế các vi khuẩn Bacieroides fragilis, Clostridium perfringens, c. paraputrificum, Escherichia coli, Eubacterium limosum và Staphylococcus aureus. MG ức chế yếu các chủng Bifidobacterium animalis, B. bifidum, B. breve, B. infantis, B. thermophilum, Lactobacillus acidophilus, L. plantarum và Streptococcus faecalis.
  • Trong cao chiết với n – hexan thân cây muối, hoạt chất acid 6 – pentadecylsalicylic có hoạt tính kháng thrombin và kéo dài thời gian đông máu phụ thuộc vào liều trong thử nghiệm tương tác thrombin – fibrinogen. Cao ức chế cyclooxygenase và lipoxvgenase là enzym quan trọng tham gia vào quá trình kết tập tiểu cầu, do đó có thể có tác dụng điều trị huyết khối và xơ cứng động mạch. Phân đoạn tan trong ether của cao có tác dụng trên chuyển hóa acid arachidonic ở tiểu cầu thỏ.
  • Trong nghiên cứu về tác dụng trên bệnh thận do immunoglobulin A, bằng thử nghiệm tác dụng trên tăng sinh tế bào màng nâng cuộn mao mạch người, cao methanol thô cây muối ức chế sự tăng sinh tế bào người được hoạt hóa bởi interleukin – 1β (IL – 1β) và IL – 6, và làm giảm sản sinh IL – Iβ và yếu tố hoại tử u – α (I NF – α). Ngoài ra, cao còn ức chế sự biểu hiện của IL – 1β m RNA. Toàn cây muối, chiết với cồn ethylic 50°, có tác dụng hạ đường máu trên chuột cống trắng gây đái tháo đường thực nghiệm. Cao ngũ bội tử và thành phần chính acid galic, cho uống hoặc tiêm phúc mạc cho chuột cống trắng dược gây viêm gan bằng carbon tetraclorid, có tác dụng dự phòng sự tiến triển tổn thương gan cấp tính. Cơ chế dự phòng có thể chủ yếu do tác dụng bảo vệ của những chất này trên màng tế bào hơn là hoạt tính thu dọn gốc oxy.

6. Tính vị, công năng

  • Ngũ bội tử có vị chát, hơi chua, tính bình, vào ba kinh: phế, thận, đại trường, có tác dụng liễm phế, cầm máu, làm săn.
  • Lá và rễ cây muối có vị mặn, tính mát, có tác dụng hạ sốt, cầm máu.

7. Công dụng

  • Ngũ bội tử được dùng chữa ho, tiêu chảy, lỵ mạn tính, lỵ ra máu, vàng da, nôn ra máu, chảy máu cam, ra nhiều mồ hôi, ngộ độc. Dùng ngoài, trị mụn nhọt, lở loét. Ngày 2 – 5g dạng thuốc sắc. Ngậm dung dịch 5 – 10% để điều tri các vết loét trong miệng. Lá và rễ cây muối (40g) sắc uống chữa cảm sốt, ho ra máu, sởi. Lá sắc uống thay chè để giải nhiệt, dự phòng cảm nắng, chữa bị thương, kết hợp đắp ngoài.
  • Ở một số nước Đông Nam Á, ngũ bội tử được dùng uống làm thuốc làm săn, trị chảy máu, tiêu chảy, lỵ và ho đờm, đắp ngoài trị mụn nhọt, lở loét. Đôi khi quả cây muối được dùng trị tiêu chảy. Ở Trung Quốc, ngũ bội tử uống là thuốc bổ, giải độc, hạ nhiệt, dịu cơn khát và cầm máu. Còn dùng trị di tinh, chảy máu nhiều, bệnh giun, đau răng. Dịch ép lá muối uống trị rắn độc cắn; bôi đắp tại chỗ trị chấn thương do mọi nguyên nhân, bệnh ngoài da mạn tính, bỏng, và súc miệng trị bệnh răng miệng. Ngày 0,5 – 2 g, dùng tại chỗ dạng thuốc sắc. Ở Ấn Độ, ngũ bội tử được dùng làm thuốc uống làm săn và long đờm, và bôi ngoài trị trĩ, sưng tấy và vết thương. Quả hãm uống trị đau bụng, lỵ, tiêu chảy.

8.Bài thuốc có ngũ bội tử

  • Chữa trẻ em đái dầm: Ngũ bội tử giã nhỏ, thêm nước cho dính, đắp vào rốn.
  • Chữa đau bụng đi lỏng: Ngũ bội tử tán bột, làm viên bằng hạt đậu xanh, ngày 15-20 viên uống với nưóc pha bạc hà.
  • Chữa trẻ con bị trớ: Ngũ bội tử 3g, một nửa để sống, một nửa nưóng chín, trích cam thảo 20g. Tất cả tán nhỏ, mỗi lần dùng 2g chiêu với nước cơm hay nước cháo.
  • Chữa trẻ em bị loét miệng: Ngũ bội tử mài với nước, bôi.